Nợ như Chúa Chổm: Câu chuyện dân gian vừa hóm hỉnh vừa thấm thía về số phận đổi đời

Nợ như Chúa Chổm: Câu chuyện dân gian vừa hóm hỉnh vừa thấm thía về số phận đổi đời

Trong kho tàng truyện cổ tích và giai thoại dân gian Việt Nam, Nợ như Chúa Chổm là một câu chuyện rất lạ. Người đọc tìm thấy trong đó vừa có chất khôi hài dân dã, vừa có nỗi bùi ngùi về một kiếp người đi qua những tháng ngày cơ cực, lang bạt và bị đời nhìn bằng ánh mắt nửa thương hại, nửa chê cười. Chúa Chổm hiện lên không giống những nhân vật uy nghiêm thường thấy trong chuyện về bậc đế vương, mà trước hết là một chàng trai nghèo, ăn chịu khắp nơi, sống lay lắt giữa chợ đời, bị cái đói bám riết như chiếc bóng không rời. Thế nhưng, chính từ phận người thấp bé ấy, dân gian lại dựng nên một hành trình đổi đời đầy bất ngờ, nơi nợ nần, cơ cực và cả chút liều lĩnh tuổi trẻ cuối cùng trở thành phần ký ức không thể xóa của một con người từng bước lên đỉnh cao quyền lực. Đọc truyện hôm nay, ta không chỉ bật cười trước những tình tiết hóm hỉnh, mà còn thấy thấp thoáng trong đó một lời nhắc về nhân tình thế thái, về cái nghèo, cái nợ và sự đổi thay khó lường của số phận.

Nội dung chính của truyện

Vào thời nhà Lê, có một ông quan lớn trong triều tên là Mạc Ðăng Dung có ý muốn cướp ngôi vua. Nhà vua biết được tin đó nhưng thế lực họ Mạc rất lớn: hắn cầm binh quyền, bè đảng lại đông nên không thể làm gì được. Cuối cùng nhà vua cất lẻn trốn đi, nhưng chẳng được bao lâu đã bị Mạc Ðăng Dung bắt đem về giam lại.
  Hồi ấy ở gần trại giam có một cô hàng rượu vẫn thường đem rượu đến bán cho quân lính canh ngục. Một hôm, cô hàng đưa rượu vào bán, thấy có một phạm nhân mặt mũi khôi ngô bị giam riêng ra một nơi. Khi biết người đó là vua, cô hàng có ý muốn làm quen.
  Mỗi lần bán rượu cho ngục tốt, nàng đều rót cho vua uống. Dần dần giữa hai người có một mối tình nhóm lên. Một hôm, cô hàng cất một mẻ rượu rất ngon lại có pha thuốc mê, đến chuốc cho quân canh. Khi thấy họ năm gục xuống, nàng bèn vào tình tự với vua.
  Sau đó cô hàng rượu có thai. Nhà vua biết mình không thoát khỏi bàn tay tàn bạo của họ Mạc, bèn giao ấn ngọc lại cho nàng và nói:
– Nàng giữ vật này làm dấu tích, nếu sau này đẻ con trai, nó sẽ có ngày phục thù cho cha.
  Không bao lâu, nhà vua quả bị họ Mạc sai người vào ngục giết chết. Tất cả hoàng hậu, thái tử, công chúa, phi tần của nhà vua cũng đều chung số phận. Xong việc đó, Mạc chiếm lấy ngôi Lê, làm vua nước Ðại Việt.
  Cô hàng rượu được tin, không còn hồn vía nào nữa. Nàng trốn đi một nơi khác làm thuê làm mướn, sống một cuộc đời lẩn lút. Ðủ ngày, đủ tháng, nàng sinh được một người con trai đặt tên là Chổm. Lớn lên, Chổm được vào chùa ở với sư cụ Thạch Toàn học kinh kệ. Chổm rất sáng dạ nhưng phải cái nghịch ngợm thì không ai bằng.
  Một hôm đi chơi về đói, Chổm thấy trước tượng mụ Thiện có bày một mâm đầy chuối và quýt. Anh chàng rón rén đến bệ, bịt mắt Mụ Thiện lại và bẻ chuối ăn. Bất đồ sư cụ ở đâu đi vào trông thấy liền nọc ra đánh. Chổm tức lắm, chờ lúc sư đi vắng, lấy giấy viết mấy chữ:”Mười tay, mười mắt không giúp gì cho ta. Thật là vô ích. Phải đày đi phương xa”. Viết xong dán vào ngực mụ Thiện. Ðêm hôm ấy, sư cụ tự nhiên mộng mụ Thiện bảo mình rằng:
– Nhà vua đói nên mới ăn, sao lại đánh ngài để ngài đuổi ta đi. Vậy phải xin lỗi ngài để ngài tha cho ta.
  Tỉnh dậy, sư cụ rất phân vân, mới gọi chú tiểu Chổm vào kẻ chuyện cho biết và bảo bóc giấy đi. Sư cụ hỏi anh chàng:
– Cha mày đâu?
  Chổm đáp:
– Tôi lớn lên chưa từng nghe nói có cha.
  Sau đó Chổm trở về hỏi mẹ:
– Cha con đâu:
  Mẹ sợ không dám nói sự thật cho con biết, đáp:
– Cha con họ Lê, bị hổ ăn thịt mất rồi.
  Nghe nói Chổm rất buồn. Từ đó anh chàng lập tâm giết hổ để báo thù cho cha.
Một hôm, Chổm đi vào rừng chơi, thấy một con hổ đang ngủ dưới gốc cây, liền rón rén cầm một hòn đá lớn ném mạnh vào đầu hổ, hổ vỡ óc chết tươi. Ðang nắm đuôi kéo hổ về thì Chổm bỗng gặp một con hổ khác xông ra. Chổm sợ quá quẳng xác hổ cắm đầu chạy.
  Khi hổ sắp đuổi kịp thì tự nhiên có một ông già tay cầm một cây côn sắt ở trong rừng hiện ra đánh chết con hổ dữ. Chổm thoát chết, sụp lạy ông già. Ông già trao cho Chổm cái côn, bảo:
– Con hãy học một ít miếng võ để mà hộ thân.
  Chổm sung sướng vâng lời. Dạy xong, ông già cho Chổm cái côn rồi đi mất.
  Từ đó, Chổm dùng côn làm vũ khí tuỳ thân. Một hôm đi qua một cái miếu, Chổm từng nghe nói có nhiều yêu quái hại người, bèn cầm côn trèo tường nhảy vào tìm yêu quái.
  Một lát, ở trong hang sâu bò ra một con rắn lớn mắt sáng như sao, miệng phun khí độc toan vồ lấy Chổm. Chổm giơ thần côn vụt lấy vụt để vào đầu rắn. Rắn chết, từ đó trong xóm được yên ổn.
  Hai mẹ con Chổm về sau thấy yên, lại trở về chốn cũ. Hằng ngày anh chàng đi kiếm củi hoặc làm thuê làm mướn nuôi mẹ. Những lúc bụng đói, Chổm thường vào ăn cơm hay mua thức ăn tại các quán cơm ở cửa ô. Hàng nào được Chổm vào ăn là hôm đó đắt như tôm tươi; còn hàng khác chỉ ngồi xua ruồi.
  Người ta cho là Chổm nhẹ vía nên hàng nào cũng muốn mời anh vào ăn dù bán chịu cũng được. Chổm loang toàng và tiêu pha bạt mạng. Toàn là ăn chịu, mua chịu. Ai hỏi nợ, hắn cũng bảo:
– Ðến ngày tôi làm nên, sẽ xin trả chu tất!
  Hồi bấy giờ có một ông quan khác tên là Nguyễn Kim trốn sang Lào mưu đồ việc diệt Mạc. Vua nước Lào nhường cho ông ta miếng đất Sầm Châu làm căn cứ để lo việc khởi mã, Nguyễn Kim đã gây được lực lượng. Nhưng ông ta còn muốn tìm một người thuộc dòng chính thống để bá cáo thiên hạ. Khốn một nỗi con cháu vua Lê đã bị Mạc giết hại hầu hết. Một đêm nọ, Nguyễn Kim thấy một vị thần hiện ra trong giấc mộng bảo:
– Thiên tử ra đời đã lâu sao không đón về còn chờ gì nữa.
  Ông hỏi:
– ở đâu?
– Cứ đi về phía tây kinh thành ,ở dãy hàng cơm đúng ngày thìn giờ ngọ, hễ thấy rồng đen quấn cột chính thị là thiên tử.
  Sau khi tỉnh dậy, Nguyễn Kim rất mừng, bèn mang theo một ít bộ hạ cải trang đi tìm con cháu nhà Lê theo như lời thần nhân đã mách. Hôm đó, Chổm đang ngồi ở hàng cơm, thấy có mấy người khách lạ đi qua, bèn đứng ôm lấy cột nhìn ra. Nguyễn Kim rảo bước qua một lượt chỉ thấy quấn cột là một chàng trai trẻ tuổi, da đen sì, nhưng thấy điệu hèn hạ nên cũng không để ý.
  Ðêm hôm đó Nguyễn Kim lại mộng thấy thần trách:
– Ta đã mách cho biết thiên tử mà không nghe. Ngày mai ra bờ sông hễ thấy ai đội mũ sắt, cưỡi thuyền rồng là đúng.
  Hôm sau, Nguyễn Kim chực ở bờ sông nhìn những thuyền bè qua lại nhưng chờ mãi chả thấy ai đội mũ sắt cả. Mãi đến gần gối có một chuyến đò ngang, trong đó có Chổm và một người bán chảo gang. Gặp khi trời đổ cơn mưa, Chổm không có nón, phải mượn chiếc chảo úp lên đầu cho đỡ ướt.
  Nhưng Nguyễn Kim không chú ý vì thấy y không có vẻ gì là quyền quý. Thần lại xuất hiện trong giấc mộng của Nguyễn Kim, trách ông ta không nghe lời mình rồi bảo:
– Ngày mai cứ đến chỗ quán cơm cũ tìm người nào “đi chữ đại, trở lại chữ vương” thì đón về.
Qua ngày sau, Nguyễn Kim và bộ hạ lại kéo nhau đi tìm.
  Họ quả thấy anh con trai hôm nọ đang rượu say bây giờ nằm trong quán cơm, đầu gối lên ngon côn, hai tay bỏ xuôi xuống, hai chân dạng ra hai bên như chữ “đại”.
  Bỏ đi một chốc, đến lúc trở lại, họ thấy Chổm đã cựa mình, lúc này ngọn côn trật lên khỏi đầu, hai tay bỏ ra trước ngực, còn hai chân thì xếp bằng tròn như chữ “vương”.
  Bấy giờ Nguyễn Kim mới tin chắc anh chàng này là người mà thần có ý mách bảo cho mình, bèn giả cách vào quán ăn uống, chờ Chổm dậy sẽ tiến hành làm quen.
  Chổm chợt tỉnh, thấy một người khăn áo có vẻ quyền quý đến sát giường mình thì cầm côn chực bỏ chạy. Nhưng Nguyễn Kim đã giữ Chổm lại thưa rằng:
– Xin điện hạ đừng sợ.
  Chổm ngạc nhiên đáp:
– Ô hay! điện hạ nào. Tôi là thằng Chổm đây!
  Nhưng thấy người quyền quý ấy có vẻ ân cần hỏi thăm cha mẹ và chỗ ở, Chổm an tâm hơn trả lời:
– Tôi họ Lê, cha bị hổ ăn thịt, còn mẹ ở nhà.
  Nghe nói là họ Lê, bọn Nguyễn Kim mười phần đã chắc đến bảy tám, liền theo Chổm về tận nơi. Trước những người khách lạ, mẹ Chổm vừa mừng vừa sợ. Khi biết bọn họ có thiện ý, mới đưa ấn ngọc ra và kể rõ đầu đuôi.
  Thế là từ đó Chổm cùng mẹ từ giã ngôi nhà nát ở ngoại thành lên đường đến Sầm Châu lo việc phục thù cho cha. Thanh thế quân Lê mỗi lúc ngày một to. Vua Mạc nghe tin, sai tướng đem sáu mươi vạn quân vào đánh.
  Qua bao nhiêu trận kịch chiến, quân Lê đại thắng. Rồi không bao lâu, quân của Chổm lại đánh tiến ra Bắc. Quân Mạc hễ thấy quân Lê tới đâu là chạy trốn như vịt. Bấy giờ Chổm đường đường là một vị chúa uy thế lẫy lừng.
   Ðến ngày khải hoàn trở về kinh thành, khi quân gia đang trên đường tiến vào cửa ô thì bỗng có một số người chủ hàng kéo ra để chào người quen và để đòi nợ cũ. Thấy thế, bọn lính toan bắt vì tội vô lễ. Nhưng chúa Chổm ngăn lại rồi kể chuyện ăn chịu ngày còn hàn vi cho các tướng nghe. Ðoạn bảo quan hầu lấy tiền ra trả nợ cho họ.
  Lúc đó có nhiều người thấy kẻ kia đòi được đòi nợ cũng xúm lại kể ơn nghĩa cũ; kẻ tính thành năm quan, người tính thành mười.. biến thành một cuộc truy nợ đông như đám hội. Bọn quan hầu đếm tiền mãi không xiết vì con số chủ nợ mỗi lúc một tăng.
  Bọn họ bèn nghĩ ra một kế là đứng trên kiệu vung tiền xuống cho ai nhặt được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Mọi người thấy thế đổ xô vào cướp. Dần dần quan quân tiến đến phố cứ như bây giờ là vườn hoa cửa Nam.
  Một viên đại tướng nghĩ chúa mình sắp lên ngôi tôn mà khách nợ cứ chạy theo réo mãi như thế thì còn ra thể thống gì nữa mới viết vào một tờ giấy hai chữ” Cấm chỉ” dán ở giữa phố và sai một toán quân đóng lại đó, ra lệnh hễ thấy ai đòi nợ chúa nữa thì chém ngay. Nhờ thế, người ta mới thôi réo và thôi đuổi theo xe Chổm.
  Chúa Chổm vào đến hoàng cung thì trời sắp tối. Thấy văn võ bá quan ai cũng muốn mình lên ngôi ngay để yên lòng thiên hạ, Chổm bèn ngửa mặt khấn trời rằng:
– Hỡi thượng đế, nếu tôi xứng đáng nối nghiệp nhà Lê thì xin quay mặt trời trở lại chính ngọ, bằng không thì tôi trở về chốn cũ làm ăn, gia quyền vị lại cho người khác.
  Khấn được một lúc quả nhiên trời sắp tối bỗng sáng hẳn, mặt trời treo giữa đỉnh đầu. Chổm đường hoàng bước lên đàn làm lễ đăng quang tự xưng hoàng đế. Lễ tất, mặt trời tự nhiên kéo một mạch về phương Tây lặn mất. Trời bỗng tối sầm lại như mực; lúc mọi nhà vừa thắp đèn lền thì gà vừa gáy canh một.
  Ngày nay còn có câu tục ngữ “Nợ như chúa Chổm” và câu ca dao:
Vua Ngô ba mươi sáu tán vàng 
Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì 
Chúa Chổm mắc nợ tì tì 
Thác xuống âm phủ kém gì vua Ngô
Ở chỗ vườn hoa cửa Nam bây giờ, cũng do sự tích trên người ta gọi là Ngã tư Cấm Chỉ.

Nợ như Chúa Chổm và sức sống đặc biệt của một giai thoại dân gian

Trong văn học dân gian Việt Nam, có những câu chuyện sống mãi không hẳn vì cốt truyện quá kỳ ảo, mà bởi chúng chạm đúng vào một điều rất gần với đời sống con người. Nợ như Chúa Chổm là một câu chuyện như thế. Chỉ cần nghe nhắc đến tên truyện, người ta đã nhớ ngay đến câu thành ngữ quen thuộc dùng để chỉ những ai nợ nần chồng chất, vay trước trả sau, sống trong cảnh túng thiếu triền miên. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở lớp nghĩa ấy thì vẫn chưa đủ. Đằng sau thành ngữ quen miệng là cả một giai thoại rất đậm màu dân gian, nơi tiếng cười, nỗi thương, sự trớ trêu và khát vọng đổi đời cùng hiện diện trong một thân phận nhiều nổi trôi.

Cái hay của truyện nằm ở chỗ nó không xây dựng Chúa Chổm như một con người hoàn hảo. Nhân vật trung tâm bước ra từ nghèo đói, lớn lên trong thiếu thốn, có khi nghịch ngợm, có khi bạt mạng, có lúc sống dựa vào lòng tốt và cả sự dễ dãi của người khác. Nhưng chính điều đó lại khiến câu chuyện trở nên gần gũi. Chúa Chổm không ở trên mây, không đứng xa đời sống dân gian, mà hiện lên như một con người rất thật, mang những nét vụng dại, ngổ ngáo, ham sống và cả sự liều lĩnh của kẻ đã quá quen với cơ cực. Dân gian dường như đã gửi vào nhân vật này một cái nhìn vừa hài hước vừa cảm thông, như thể muốn nói rằng trong những phận người tưởng chừng lêu lổng nhất, biết đâu vẫn ẩn giấu một số mệnh khác thường.

Bởi vậy, đọc lại câu chuyện này trên thuvienvh.online, người đọc không chỉ bắt gặp một tích xưa giải thích thành ngữ, mà còn được đi qua một lát cắt rất thú vị của đời sống Việt. Ở đó có quán cơm, có hàng rượu, có chùa chiền, có cửa ô, có những món nợ nhỏ nhặt của người nghèo và cả giấc mộng lớn của người đời về sự đổi ngôi, đổi vận. Mỗi chi tiết đều thấm đẫm không khí dân gian, khiến câu chuyện vừa có dáng vẻ của huyền thoại, vừa giữ nguyên hơi thở của chợ búa, làng mạc và phố phường xưa cũ.

Chổm ra đời trong một thân phận nhiều khuất lấp

Câu chuyện mở ra từ một thời cuộc đầy biến động. Trong bối cảnh tranh đoạt quyền lực, nhà vua bị lật đổ, bị bắt giam và cuối cùng rơi vào cảnh bi thảm. Giữa chốn ngục tù tối tăm ấy, một cô hàng rượu vô tình bước vào đời vua như một làn hơi ấm mong manh giữa đoạn cuối cùng của số phận. Từ mối duyên ngắn ngủi mà bi thương đó, một đứa trẻ được thai nghén trong cảnh lưu lạc và hiểm nguy. Khi nhà vua bị sát hại, người đàn bà ấy phải lẩn trốn, sinh con trong nghèo khó và đặt tên con là Chổm. Ngay từ giây phút chào đời, Chổm đã mang trong mình một bí mật lớn hơn cả thân phận của chính mình.

Tuổi thơ của Chổm không có bóng dáng của vinh hoa hay cung điện. Cậu lớn lên giữa thiếu thốn, trong cuộc đời chật vật của một người mẹ đơn chiếc luôn phải kiếm từng bữa để nuôi con. Không ai nói cho cậu biết gốc gác của mình. Không ai kể rằng trong thân phận nghèo nàn ấy còn có một dòng máu khác đang âm thầm chảy. Cái mà Chổm biết chỉ là cái đói, là những ngày cơm không đủ no và cái nhìn dè dặt của người đời với mẹ con cậu. Bởi vậy, cậu hiện lên trước hết như một đứa trẻ của dân gian, không được nâng niu bởi phú quý, mà bị cuộc sống xô đẩy lớn lên từ bùn đất và chật vật.

Nhưng chính trong nghèo khó ấy, Chổm lại mang một sức sống rất mạnh. Cậu sáng dạ, nghịch ngợm và đầy bản năng sống. Những nét ấy làm nhân vật trở nên sinh động hơn nhiều so với hình ảnh một người mang số mệnh cao quý được định sẵn. Chàng trai này không bước vào đời bằng vẻ nghiêm cẩn của bậc quân tử, mà bằng sự láu lỉnh, bốc đồng và cả chút hoang dã của một kẻ sống ngoài lề trật tự sang trọng. Có lẽ cũng vì thế mà khi đọc truyện, người ta dễ nhớ Chổm trước tiên như một con người của chợ đời, rồi sau đó mới nghĩ đến vận mệnh đặc biệt đang chờ đợi phía trước.

Những năm tháng nghèo khó và cái tên Chúa Chổm gắn với nợ nần

Khi lớn lên, Chổm cùng mẹ trở về sống đời lam lũ. Chàng đi kiếm củi, làm thuê, bươn chải để nuôi thân và nuôi mẹ, nhưng cái nghèo vẫn bám riết lấy cuộc đời mình như một món nợ truyền kiếp. Thứ đáng nhớ nhất ở Chổm thời ấy không chỉ là sự túng thiếu, mà là cái cách chàng sống giữa nghèo khổ: hôm nào đói quá thì vào quán cơm ăn chịu, thấy món ngon thì mua chịu, thiếu tiền thì khất, thiếu gạo thì vay. Điều lạ là người ta vẫn để chàng ăn chịu. Có lẽ vì Chổm có cái duyên riêng, hoặc vì chính sự nghèo đến trơ trọi của chàng khiến người đời nỡ lòng nào cũng không nặng tay cự tuyệt. Hôm nào Chổm ghé hàng nào, hàng ấy lại buôn bán may mắn hơn, thế là người ta càng sẵn sàng cho chàng thiếu trước rồi tính sau.

Từ đó, nợ nần bủa quanh Chổm như một lớp sương mỏng nhưng dai dẳng. Chàng nợ người này vài đồng, nợ người kia bữa cơm, nợ quán nọ chén rượu, nợ hàng kia mớ thức ăn, món nhỏ chồng món nhỏ mà dài thành một chuỗi không biết khi nào dứt. Mỗi lần bị đòi, Chổm chỉ cười rồi bảo rằng đến ngày làm nên sẽ trả đủ. Câu nói ấy nghe vừa ngang tàng, vừa buồn cười, mà cũng lại phảng phất một niềm tin mơ hồ của kẻ chẳng còn gì để mất. Chính ở đây, hình tượng Chúa Chổm bắt đầu có nét rất dân gian: chàng không giấu nợ, không trốn nợ, cũng không giả bộ cao sang, mà sống giữa cái nợ của mình như sống với một phần số phận, hồn nhiên đến mức khiến người khác vừa bực vừa không nỡ ghét.

Đó là chi tiết khiến truyện không sa vào chỗ chỉ kể về một con người nghèo khổ để than vãn. Trái lại, dân gian khắc họa Chổm bằng một thứ ánh sáng rất lạ: nghèo mà không bi lụy, nợ mà không hèn mọn, khốn khó mà vẫn có chút ngang tàng như thể đời mình rồi sẽ còn rẽ sang hướng khác. Nụ cười ở đây vừa có chất giễu nhại, vừa có sự bao dung. Nó giúp nhân vật Chổm bước qua sự đáng thương để trở thành một hình tượng khó quên, khiến người đọc không chỉ cười chàng mà còn nhớ chàng như nhớ một cái bóng quen trong ngõ chợ cũ.

Từ thân phận hàn vi đến cuộc gặp gỡ làm đổi vận đời người

Cuộc đời Chổm bắt đầu đổi khác khi những người trung hưng nhà Lê lên đường tìm hậu duệ chính thống. Giữa khói lửa tranh giành quyền lực, điều họ cần không chỉ là binh mã mà còn là một biểu tượng, một con người có thể đứng ra làm chỗ dựa cho lòng người. Trong các giấc mộng và lời chỉ dẫn đầy màu sắc linh thiêng, dấu vết của “thiên tử” liên tục hiện về, nhưng lại hiện lên trong những hình hài không hề giống khuôn mẫu người đời vẫn tưởng. Đó không phải bóng dáng oai phong của một bậc đế vương giữa điện ngọc, mà là một chàng trai da sạm, ăn mặc tầm thường, say ngủ ở quán cơm, sống giữa những món nợ cũ kỹ và dáng vẻ chẳng có chút gì quyền quý. Chính sự đối lập ấy làm câu chuyện trở nên rất có duyên.

Những người đi tìm ban đầu không tin. Họ lưỡng lự trước một chàng trai quá đỗi nghèo nàn, quá xa với tưởng tượng về người mang mệnh lớn. Nhưng dần dần, từng dấu hiệu nhỏ, từng lời mách báo, từng chi tiết trùng hợp đưa họ đến gần hơn với sự thật. Khi về đến nhà Chổm và thấy mẹ chàng giữ được tín vật cũ, bức màn bí mật mới thực sự được vén lên. Từ đây, cuộc đời Chổm không còn chỉ là câu chuyện của một kẻ ăn chịu khắp nơi nữa, mà trở thành hành trình trở về với gốc gác bị thất lạc và bước vào cơn sóng lớn của lịch sử.

Đoạn này trong truyện dân gian vừa mang chất huyền thoại vừa rất giàu tính biểu tượng. Nó như muốn nói rằng vận mệnh đôi khi không hiện ra ở nơi hào nhoáng nhất, mà ẩn nấp trong chính những kiếp người bị cuộc đời xô dạt nhất. Chổm đang nằm dài trong quán ăn, nợ nần còn chưa biết lấy gì trả, thế mà đã có một con đường khác mở ra dưới chân mình. Cái nghèo không xóa được dòng máu của chàng. Những món nợ nhỏ nhặt không chặn nổi bước ngoặt của số phận. Và có lẽ cũng chính từ sự đối lập ấy mà truyện càng trở nên hấp dẫn: từ chỗ thấp nhất, người ta bỗng thấy nhân vật được nâng lên rất cao, nhưng cái bóng của quá khứ cơ cực vẫn đi theo không hề mất.

Khi Chổm bước lên địa vị cao sang nhưng quá khứ vẫn ở lại

Khi Chổm bước lên địa vị cao sang nhưng quá khứ vẫn ở lại
Khi Chổm bước lên địa vị cao sang nhưng quá khứ vẫn ở lại

Sau khi được đón đi, Chổm cùng mẹ rời bỏ căn nhà cũ để bước vào một chặng đời khác. Từ đó, chàng gắn với sự nghiệp phục hồi cơ đồ, trở thành biểu tượng cho một dòng chính thống được tìm lại. Chiến thắng đến, thế lực mới dần mạnh lên, và cuối cùng Chổm bước tới địa vị mà người đời trước đó không ai có thể hình dung nổi. Nhưng điều khiến câu chuyện trở nên thú vị không phải chỉ là màn đổi đời ngoạn mục ấy. Điều đáng nhớ hơn là ở giây phút chàng trở về với tư thế cao sang, những món nợ cũ không hề tan biến vào dĩ vãng. Chúng bỗng hiện ra rõ hơn bao giờ hết, như thể dân gian muốn nhắc rằng quá khứ không dễ gì bỏ lại sau lưng chỉ bằng một cuộc đổi vận.

Khi đoàn xe khải hoàn tiến vào kinh thành, những người bán cơm, bán rượu, cho vay lặt vặt ngày nào đồng loạt kéo ra đòi nợ. Cảnh tượng ấy chắc hẳn vừa náo nhiệt vừa buồn cười. Một người nay đã đứng trên đỉnh cao quyền lực, xung quanh là quân lính, cờ quạt và nghi trượng, lại bị những chủ nợ cũ réo gọi giữa đường như một kẻ quen nợ nần trong chợ nhỏ. Chính ở đoạn này, chất hài dân gian bừng sáng nhất. Nó kéo nhân vật từ vị trí thiêng liêng xuống gần hẳn với mặt đất, để người đọc thấy rằng dù số phận có thay đổi thế nào, Chổm vẫn là Chổm của những ngày ăn chịu năm xưa. Và có lẽ chính điều ấy làm cho nhân vật này khác với nhiều hình tượng đế vương khác trong truyền thuyết.

Nhưng đằng sau tiếng cười ấy lại có một nét đẹp rất người. Chổm không chối bỏ quá khứ, cũng không nổi giận vì bị nhắc nợ giữa lúc long trọng nhất. Trái lại, chàng cho trả nợ, kể lại chuyện cũ và chấp nhận món đời mà mình từng vay. Ở đây, dân gian như ngầm bày tỏ một sự yêu mến đối với nhân vật. Chúa Chổm không phải bậc quyền quý kiêu bạc quên sạch những ngày cơ hàn, mà là con người vẫn nhớ món cơm mình từng ăn, nhớ những người từng chìa tay cho mình khất nợ trong lúc khốn khó. Chính chi tiết ấy khiến câu chuyện bớt đi vẻ phiêu lưu hoang đường mà thêm vào chiều sâu nhân tình.

Tiếng cười dân gian và bài học sau hình tượng Chúa Chổm

Cái hay của Nợ như Chúa Chổm nằm ở chỗ tiếng cười trong truyện không ác. Người đọc cười Chổm vì chàng nợ quá nhiều, sống quá bừa bãi và quá tự nhiên với cái nợ của mình. Nhưng càng đọc, ta càng thấy tiếng cười ấy không phải để hạ nhục một kẻ nghèo, mà để soi rõ hơn một phần đời sống rất thật của con người. Cái nợ trong truyện không chỉ là nợ tiền bạc. Nó còn là thứ gắn với cảnh bần hàn, với thân phận lưu lạc, với nỗi túng thiếu đã thành thói quen của những phận người sống chật vật. Dân gian nhìn cái nợ ấy bằng ánh mắt chua chát nhưng không tuyệt vọng, vẫn để trong đó chút hóm hỉnh như một cách nhẹ tay với những kiếp người cơ cực.

Bên cạnh đó, câu chuyện còn gợi ra một triết lý rất gần với đời sống Việt: ở đời, không ai chỉ được nhớ bằng địa vị sau cùng. Có người lên cao nhưng người ta vẫn nhớ cái thời túng bấn của họ. Có người giàu sang rồi, mà một câu chuyện nhỏ từ thuở nghèo khó vẫn theo mãi như cái bóng. Chúa Chổm vì thế trở thành hình tượng vừa lớn vừa nhỏ, vừa mang vẻ của người đổi vận, vừa không thoát khỏi những vết tích của đời thường. Điều đó làm cho nhân vật có hồn hơn, có thân nhiệt của cuộc sống hơn, và cũng khiến truyện dân gian giữ được một nét rất đời: không thần thánh hóa con người đến mức xa lạ với nhân gian.

Thành ngữ “nợ như Chúa Chổm” sống lâu cũng bởi lẽ ấy. Nó không chỉ là một cách nói vui, mà là kết tinh của cả một giai thoại đầy hình ảnh. Mỗi lần nhắc đến câu ấy, người ta như thấy hiện lên một chàng trai nghèo đi ăn chịu khắp nơi, vừa đáng trách vừa đáng thương, rồi bất ngờ đổi đời nhưng vẫn bị quá khứ đuổi theo. Cái bóng của truyện vì thế bước ra ngoài văn bản để sống trong ngôn ngữ hằng ngày, trở thành một phần của trí nhớ tập thể. Đó là dấu hiệu rất rõ cho thấy câu chuyện này không chỉ được kể, mà còn được người đời giữ lại như một mẩu sự thật mang dáng dấp truyền kỳ.

Vì sao câu chuyện này vẫn còn gần với người đọc hôm nay

Dù được kể từ rất lâu, Nợ như Chúa Chổm vẫn có sức gần gũi đặc biệt với người đọc hiện đại. Bởi trong cuộc sống hôm nay, cái nợ vẫn là một phần không xa lạ của đời người, dù hình thức có thể khác đi rất nhiều. Người ta vẫn vay mượn, vẫn khất hẹn, vẫn có những lúc túng quẫn mà phải sống nhờ vào lòng tin và sự châm chước của người khác. Chính vì thế, thành ngữ về Chúa Chổm vẫn còn nguyên sức sống trong tiếng Việt, không chỉ vì tính hình tượng của nó, mà vì đằng sau đó là một trải nghiệm rất người, rất đời. Nghe câu ấy, ai cũng hình dung được một cảnh huống cụ thể, sinh động, có chút buồn cười mà cũng rất thật.

Mặt khác, câu chuyện còn chạm vào giấc mơ đổi đời mà con người ở thời nào cũng mang trong lòng. Từ cảnh khốn khó bỗng bước sang đời khác, từ chỗ bị coi thường bỗng được tôn cao, đó là kiểu đổi thay khiến người ta luôn bị cuốn hút. Nhưng truyện dân gian rất khéo khi không để sự đổi đời ấy trở nên quá suôn sẻ hay trơn tru. Quá khứ vẫn còn đó, món nợ vẫn còn đó, tiếng gọi của những người từng cho vay vẫn còn đó. Nhờ vậy, câu chuyện vừa thỏa mãn trí tưởng tượng về may rủi của số phận, vừa giữ được cảm giác chân thực. Nó nhắc người đọc rằng có thể đời người đổi khác, nhưng những dấu vết của nghèo khó và những món ân tình cũ không dễ gì xóa sạch.

Cũng bởi thế, đọc lại truyện hôm nay, người ta không chỉ cười hay chỉ ngẫm về một tích xưa. Người ta còn thấy thấp thoáng trong đó bóng dáng của sự tử tế dân gian. Những chủ quán từng cho Chổm ăn chịu thực ra cũng là những con người đã cưu mang chàng trong một cách rất đời thường. Và khi Chổm trả nợ, điều được trả lại không chỉ là tiền bạc, mà còn là một thứ công bằng muộn màng dành cho những ân nghĩa nhỏ bé của ngày trước. Chính lớp nghĩa ấy làm cho câu chuyện, dù hóm hỉnh, vẫn không mất đi độ ấm của tình người.

Kết luận

Nợ như Chúa Chổm là một câu chuyện vừa vui vừa buồn, vừa dí dỏm vừa sâu cay. Nó kể về một chàng trai nghèo đến mức nợ nần khắp nơi, sống bằng những bữa ăn chịu và lời hẹn ngày mai, rồi bất ngờ bước lên địa vị cao sang mà vẫn không thoát khỏi bóng dáng của quá khứ. Chính sự đối lập ấy làm nên sức hút đặc biệt cho truyện. Dân gian không kể Chúa Chổm như kể về một vị vua xa vời, mà kể như kể về một con người rất gần với mặt đất, rất gần với chợ búa, bữa ăn, món nợ và thói quen sống của người thường. Nhờ vậy, nhân vật này bước ra khỏi truyện để đi vào tiếng nói hằng ngày của bao thế hệ.

Đọc lại câu chuyện hôm nay, ta thấy ở đó không chỉ là một thành ngữ được giải thích bằng giai thoại. Ta còn thấy một cách nhìn rất sâu của dân gian về số phận, về cái nghèo, về lòng người và về sự đổi thay không lường được của đời sống. Có những món nợ có thể trả bằng tiền, nhưng cũng có những món đời chỉ có thể trả bằng sự nhớ ơn, bằng việc không quên những ngày cùng cực đã qua. Có lẽ cũng vì thế mà Nợ như Chúa Chổm vẫn luôn là một câu chuyện đáng đọc lại trên thuvienvh.online, để từ một tích xưa, người đọc hiểu thêm về tiếng cười dân gian và về chiều sâu nhân tình ẩn trong những câu chuyện tưởng như chỉ để kể vui.

Các nét cốt truyện chính của bản viết lại này bám theo bản truyện dân gian phổ biến về Chúa Chổm, cùng các nguồn giải thích thành ngữ và giai thoại lịch sử thường gắn Chúa Chổm với Lê Trang Tông.

Xem thêm các truyện cổ tích khác:

Truyện chàng ngốc học khôn

Sự tích sông Tô Lịch

Trí khôn của ta đây

1 bình luận về “Nợ như Chúa Chổm: Câu chuyện dân gian vừa hóm hỉnh vừa thấm thía về số phận đổi đời

  1. Pingback: Giận mày tao ở với ai: Câu chuyện kén rể hóm hỉnh mà sâu cay về trí khôn dân gian

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *